Phân biệt hiệu quả của nước ozone, ozolive, nước oxy già khi sát trùng hay tẩy rửa làm sạch vết thương

Nguyễn Ngọc Bản

                                                 
         

     Công năng diệt khuẩn làm sạch của cả 3 thứ : Nước ozone (ozonated water - nước cất H2O sục ozone O3 sạch đạt ORP  650 - 900 mV), ozolive (dầu gel sáp ôzôn hữu cơ số từ 2 - 9) và nước oxy già H2O2 (hydrogen peroxide - thường dùng ở nồng độ y tế 3,5%) đều dựa vào khả năng oxy hoá cực mạnh của oxy nguyên tử tạo ra khi chúng phân giải nhưng chúng khác nhau cơ bản ở chỗ:

1-  Sự phát hành điện tử tự do: với nước ozone và ozolive trong quá trình phân giải, thành phần chứa ozone O3 (đôi khi có cả  O4, O5, H2O3  phát hành kèm điện tử vào trong nước. Điều này vô cùng độc đáo và quan trọng mà ở nước oxy già không có.  Định nghĩa gốc tự do là chất thiếu điện tử nên luôn luôn giành giật điện tử từ các tế bào khỏe mạnh để tự trung hoà. Các tế bào bị cướp mất điện tử sẽ lão hoá và có thể chết đi rất nhanh nếu khả năng tự bảo vệ bằng nguồn enzyme là "catalase" không đủ hoặc đã cạn kiệt. Khi dùng nước ozone, lượng điện tử tự do sinh ra rất nhiều, một phần sẽ trung hoà các gốc tự do, một phần sẽ làm trẻ hoá các tế bào. Nhưng khi dùng nước oxy già hoàn toàn không sinh ra điện tử tự do nên sẽ có nhiều tế bào bị lão hoá, biến màu, bị chết, tạo ra mủ hoặc sẹo cháy nếu lạm dụng oxy già nhiều lần nhất là với vết thương hở và khi lượng catalase dự trữ trong các tế bào thấp (do tuổi già, cơ thể suy nhược, ăn uống thiếu carotenes tự nhiên …)

2- Công năng bổ xung oxy và các vitamin, khoáng tố cần thiết một cách trực tiếp, tập trung ngay tại chỗ giúp vết thương không bị bí, tế bào hô hấp, tái tạo và phát triển lành mạnh … (tác dụng chăm sóc, dưỡng thương) chỉ có trong ozolive.

3- Ozolive có hiệu ứng êm dịu và liên tục, duy trì tác dụng  trong thời gian dài nhiều giờ sau mỗi lần bôi nhờ thành phần C10H18O3, các vi thể ozone xen kẹt mạng phân tử dầu thực vật và cơ chế tự động từ từ giải phóng ozone khi gặp nhiệt độ, độ ẩm … còn khi dùng nước ozone hay nước oxy già chỉ tác dụng trong chốc lát, sau đó vết thương vẫn có thể tái nhiễm khuẩn.

4- Trong một số trường hợp, với một số nan bệnh, dị bệnh như: dị ứng, côn trùng cắn, vảy nến, chàm bội nhiễm, “chân tay miệng”, … có thể kích giải tăng sức mạnh bằng tia cực tím (UV) sau khi bôi ozolive hoặc hỗ trợ bằng kỹ thuật điện di để dẫn dưỡng chất và khoáng tố thẩm thấu nhanh hơn. Nhưng không thể dùng nước oxy già nồng độ quá cao - sẽ rất đau xót, có thể bị biến dạng da, bỏng, sẹo vĩnh viễn dù chỉ dùng một lần.

5- Nước oxy già phản ứng rất nhanh mạnh nhưng kém an toàn. Nước ozone rẻ tiền hơn nhưng chỉ có thể sản xuất và dùng ngay tại chỗ. Ozolive lưu giữ bền lâu sử dụng đơn giản tiện lợi.

 

 

Tổng hợp tài liệu của nước ngoài - nguồn Internet:
                                 

Free Radical & Antioxidant

Gốc tự do và chất chống oxy hoá
                                                                                                    

     Trong cơ thể con người, thường xuyên diễn ra nhiều sinh hoạt  hoặc xây dựng hoặc phá hoại: Có những chất tưởng như là thực phẩm chính của tế bào nhưng đồng thời cũng lại làm hại tế bào.  Có những phân tử gây ra tổn thương nhưng cũng có những chất đề kháng lại hành động phá phách này. Gốc tự do, oxygen và chất chống oxy hóa là một thí dụ. Những phần tử này có liên hệ với nhau và ảnh hưởng tới  cơ thể con người rất nhiều, nhất là ở giai đoạn cuối của cuộc đời. Ngoài ra, có một số lý thuyết cố gắng giải thích nguyên nhân sự lão hóa, lão suy là tác dụng của những gốc tự do vào các phân tử trong cơ thể. Và để  trì hoãn tiến trình này, các chất chống oxy hóa đã được nhiệt liệt giới thiệu và rất nhiều người cao tuổi hiện nay đang dùng.                       
             
     Theo định nghĩa, gốc tự do (Free Radical) là bất cứ phân tử hóa chất nào  chỉ có một điện tử duy nhất (electron - mang điện âm) hay một số lẻ điện tử. Xin nhắc lại, về khía cạnh hóa học, phần nhỏ nhất của vật thể gọi là nguyên tử. Mỗi nguyên tử có một nhân mang điện dương với một số chẵn điện tử xoay chung quanh, giống như các hành tinh quay chung quanh mặt trời. Phân tử gồm một số nguyên tử liên kết với nhau do tác dụng của các đôi điện tử và ở trạng thái ổn định số  điện tích dương và âm của phân tử bằng nhau - phân tử trung hoà về điện tích Nếu khi, do tác dụng vật lý hay phản ứng hoá học, … một điện tử bị tách rời khỏi nhóm thì phân tử đó chỉ còn số lẻ điện tử, không cân bằng điện tích nên rất bất ổn, dễ tạo ra phản ứng, bị gọi là một gốc tự do và để tự cân bằng, nó Nó luôn luôn tìm cách chiếm đoạt điện tử  mà nó thiếu từ các phân tử khác, hậu quả dây truyền là lần lượt tạo ra chuỗi những gốc tự do mới, gây rối loạn cho sinh hoạt bình thường của tế bào. Các nhà khoa học ví chúng như những tên sở khanh chuyên đi ve vãn, phá hoại hạnh phúc của các cuộc hôn nhân đang êm đẹp... Trong  cuộc đời của một người sống  tới 70 tuổi, thì có chừng 17 tấn gốc tự do được tạo ra như vậy.                                

     Năm 1954, bác sĩ Denham Harman thuộc Đại học Berkeley, California, là nhà khoa học đầu tiên nhận ra sự hiện hữu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương cho tế bào. Trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở ngoài cơ thể.

     Gốc tự do có tác dụng không tốt cho cơ thể liên tục ngay từ lúc con người mới sinh ra và mỗi tế bào chịu sự tấn công của cả chục ngàn gốc tự do mỗi ngày. Ở tuổi trẻ và trung niên, cơ thể mạnh, trấn áp được chúng, nhưng khi tuổi cao, sức yếu, gốc tự do lấn át, gây thiệt hại nhiều gấp mười lần ở người trẻ. Nếu không bị kiểm soát, kiềm chế, gốc tự do gây ra các bệnh thoái hóa, xơ cứng động mạch, ung thư, … làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng, làm giảm trí tuệ, teo cơ quan bộ phận người cao niên. Gốc tự do phá rách màng tế bào khiến chất dinh dưỡng thất thoát, tế bào không được nuôi dưỡng , tăng trưởng sẽ suy kiệt và chết. Nó tạo ra chất lipofuscin tích tụ dưới da khiến ta có những vết đồi mồi trên mặt, trên mu bàn tay. Nó tiêu hủy hoặc ngăn cản sự tổng hợp các phân tử chất đạm, đường bột, mỡ, enzyme trong tế bào. Nó gây đột biến ở gene, ở nhiễm sắc thể, ở DNA, RNA. Nó làm chất collagen, elastin mất đàn tính, mất dẻo dai khiến da nhăn nheo, cơ khớp cứng nhắc.
           
     Theo các nhà nghiên cứu, gốc tự do hủy hoại tế bào theo diễn tiến sau đây: Trước hết, gốc tự do oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại trong việc thải chất bã và tiếp nhận thực phẩm, dưỡng khí; rồi gốc tự do tấn công các ty lập thể, phá vỡ nguồn cung cấp năng lượng. Sau cùng, bằng cách oxy hóa, gốc tự do làm suy yếu, phá huỷ các kích thích tố, enzym … khiến cơ thể không tăng trưởng được.
           
     Trong tiến trình lão hóa, gốc tự do cũng dự phần và có thể là nguy cơ gây tử vong. Hóa già được coi như một tích tụ những đổi thay trong mô và tế bào. Theo bác sĩ Denham Harman, các gốc tự do là một trong nhiều nguyên nhân gây ra sự hoá già và sự chết cuả các sinh vật. Ông cho là gốc tự do phản ứng lên ty lập thể, gây tổn thương các phân tử bằng cách làm thay đổi hình dạng, cấu trúc, khiến chúng trở nên bất khiển dụng, mất khả năng sản xuất năng lượng.
 Từ các quan sát, người ta thấy gốc tự do có ít ở các sinh vật chết non, có nhiều hơn ở sinh vật sống lâu. Người cao tuổi có nhiều gốc tự hơn là khi người đó còn trẻ. 
           
     Theo các nhà khoa học thì gốc tự do có thể là thủ phạm gây ra tới trên 60 bệnh,  đáng kể nhất gồm có: bệnh vữa xơ động mạch, ung thư, alzheimer, parkinson, đục thuỷ tinh thể, bệnh tiểu đường, cao huyết áp không nguyên nhân, xơ gan. Tuy nhiên, không phải là gốc tự do nào cũng phá hoại. Đôi khi chúng cũng có một vài hành động hữu ích. Nếu được kiềm chế, nó là nguồn cung cấp năng lượng  cho cơ thể; tạo ra chất mầu melanine cần cho thị giác; góp phần sản xuất prostaglandins có công dụng ngừa nhiễm trùng; tăng cường tính miễn dịch; làm dễ dàng cho sự truyền đạt tín hiệu thần kinh, co bóp cơ thịt. Trong cơ thể có rất nhiều loại gốc tự do, mà các gốc nguy hiểm hơn cả là superoxide,  ozone, hydrogen peroxide, lipid peroxy nhất là hydroxyl radical (OH-) là một gốc phản ứng rất mạnh và gây ra nhiều tổn thương.

     Trong cơ thể sống, gốc tự do được sinh ra bằng nhiều cách. Nó có thể là sản phẩm của những căng thẳng tâm thần, bệnh hoạn thể xác, mệt mỏi, ô nhiễm môi trường, thuốc lá, dược phẩm, tia phóng xạ mặt trời, thực phẩm có chất mầu tổng hợp, nước có nhiều chlorine và ngay cả oxygen O2 - là dưỡng khí thiết yếu cho tuyệt đại đa số mọi sinh vật, ngoại trừ một số nhỏ sinh vật kỵ khí. 

     Đối với loài người, ở một mức độ trung bình, oxygen tham dự vào sự biến hóa căn bản trong cơ thể để tạo ra năng lượng cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt cuả toàn bộ tế bào. Không khí ta thở có khoảng 20% - 21% oxygen, vừa đủ cho  nhu cầu của cơ thể và sức chịu đựng của phổi. Khi thở oxy nguyên chất khoảng 6 giờ, ta thấy nặng ngực và nếu tiếp tục thở lâu hơn nữa, các phế nang sẽ bị tổn thương.

     Oxygen phản ứng trên vật chất  và gây  nhiều thay đổi cho các phân tử này. Một miếng thịt để ra ngoài lâu sẽ thâm, miếng táo cắt đôi trở mầu nâu, cây đinh sắt sét rỉ, cục bơ  thơm trở mùi ôi khét…. chúng đã bị oxy hóa và trở thành vô dụng, đôi khi nguy hiểm.

     Trong cơ thể, phản ứng oxy hóa tạo ra những gốc tự do. Nhưng may mắn là cơ thể ta luôn luôn tự tạo ra được mấy loại enzym có tính khử có thể trung hòa gốc tự do và môi phân tử enzym có thể vô hiệu hóa nhiều ngàn gốc. Các enzym đó túc trực trong cơ thể  trước khi có phản ứng tạo ra gốc tự do nên nó kịp thời đối phó với những tên sở khanh hoá chất hoang đàng này. Các enzym là: superoxide dismutase (SOD ), catalase và glutathione, … Mỗi enzym liên hệ vào từng phản ứng hóa học riêng biệt    
           
     Ngoài ra ta có thể trung hòa gốc tự do bằng cách dùng chất chống oxy hóa         (antioxidant ). Các chất này chỉ mới được nhắc nhở nhiều trong dân chúng cũng như  y giới khoảng mươi năm gần đây. Đã có nhiều khoa học gia để tâm nghiên cứu về công dụng của chất chống oxy hóa và tây y học cũng đã có thái độ thiện cảm hơn với các chất này.
Trong một cuộc hội thảo của các bác sĩ chuyên môn về tim năm 1995, 90%  người tham dự nhận là mình có uống chất chống oxy hoá nhưng chỉ có 75 % biên toa thuốc cho bệnh nhân. Lý do là tuy chất này có khả năng làm mất hoạt tính của gốc tự do tích tụ trong cơ thể, biến chúng thành những phân tử vô hại, đồng thời cũng có khả năng duy trì cấu trúc và chức năng của tế bào, nhưng nhiều người vẫn cho là không có đủ dữ kiện xác đáng để khuyến khích bệnh nhân dùng thêm các chất này. Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo: Một chỉ dẫn thận trọng và khoa học nhất về vấn đề này là dân chúng nên ăn thực phẩm có nhiều chất chống oxy hóa trong rau, trái cây và các loại hạt, thay vì uống thêm chất chống oxy hoá - antioxidant.

Nhưng dân chúng  “ có bệnh thì vái tứ phương”, nên nhiều khi cũng quên các lời khuyên này và họ vẫn dùng.
Antioxidant chính yếu, phổ thông nhất  là sinh tố C, beta-carotene và sinh tố E. Sau đây là đặc điểm, công dụng của các chất trên trong phạm vi chống gốc tự do:

1- Sinh tố C:  Đây là chất chống oxy hóa căn bản ở trong huyết tương, nó tiêu hóa gốc tự do và ngăn không cho gốc này xâm nhập các phân tử cholesterol LDH. Nó tăng cường sự bền bỉ của mao mạch, ngăn không cho gốc tự do xâm nhập qua màng tế bào, đẩy mạnh mau lành vết thương, kích thích sản xuất kích thích tố, kháng thể, acétylcholine, ngăn chặn tác dụng có hại của oxygen. Sinh tố C có nhiều trong trái cam, chanh, quít, dâu, cà chua, lá rau xanh, ớt xanh, dưa canteloupe, broccoli. Khi nấu chín, sinh tố ở các thực phẩm kể trên bị tiêu huỷ, nên nếu ăn sống được thì tốt hơn.  Sinh tố C hoà  tan trong nước, và bài tiết khỏi cơ thể dễ dàng qua thận do đó ta không bị ngộ độc khi uống phân lượng cao. Phân lượng trung bình mỗi ngày là 60mg, tối đa  từ 500 tới 1500mg. Trong phạm vi chống gốc tự do, nhiều người cho là phải dùng phân lượng cao hơn. Theo tiến sĩ Linus Pauling, hai lần chiếm giải Nobel về khoa học, thì ta có thể dùng từ 3000 mg tới 12000 mg mỗi ngày. Cá nhân ông ta uống 18 gr một ngày và sống tới tuổi 93. Uống trên 2000 mg một ngày, có thể gây tiêu chẩy nhẹ.
           
2- Beta Carotene:  Được khám phá ra cách đây hơn 150 năm từ lớp mầu cam ở củ cà rốt, beta-carotene hiện giờ là loại chống oxy hóa được tiêu thụ rất nhiều trên thị trường. Chất này cần cho sự tăng trưởng và cho chức năng của các mô, của xương; tăng cường tính miễn dịch, giảm nguy cơ gây ung thư, giúp thị lực tốt hơn. Nó có thể biến đổi thành sinh tố A. Beta-carotene có trong củ cà rốt, khoai lang đỏ, bí ngô, đu đủ, cam, ớt. Phân lượng thông thường là 50 IU mỗi ngày, tối đa có thể lên đến 10,000 IU/ ngày. Beta-carotene không có tác dụng phụ nguy hại như sinh tố A.
            
3- Sinh tố E:  Kết quả nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy sinh tố E  chặn phản ứng của gốc tự do, ngăn sự oxy hóa cholesterol  LDL và các chất mỡ khác, nâng cao tính miễn dịch. Vì chặn sự oxy hóa cholesterol, sinh tố E làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Sinh tố E là chất chống oxy hóa hòa tan căn bản trong mỡ của cơ thể, vì nó ngăn chặn sự oxy hóa chất béo trong thực phẩm chiên rán ta dùng hàng ngày. Sinh tố E có nhiều trong rau, hột giống có dầu, gan, trứng, bơ, mầm lúa mì. Phân lượng trung bình mỗi ngày là 30 IU, tối đa 100-400 IU. Với phân lượng cao hơn, ta có thể bị mệt mỏi, nhức đầu, đau bụng, ói mửa, đi tiêu chẩy. 
           
     Các chất chống oxy hóa khác gồm có: selenium, bioflavonoids ,lutein, lycopene, coenzyme Q10, alpha-lipoic acid và ubiquinone cũng được quảng cáo chống lão hóa, nhưng không phổ thông như sinh tố C, E và Beta Caroten. Điểm cần nhớ là các chất chống oxy hóa cộng tác với nhau để loại trừ các gốc tự do. Mỗi antioxidant có tác dụng riêng với từng loại gốc tự do ở mỗi tế bào. Cho nên các chất chống oxy hóa đều có giá trị như nhau.

 

Một số hình ảnh minh họa




CLEAN JSC

 

 

 

 


Công ty Cổ phần Công nghệ Thiết bị sạch